|
Kiểu nói ''bỏ đạo công khai'' giáo luật hiểu thế nào?12/5/2014
7:31:38 PMTrong
Giáo luật có nói đến việc lìa bỏ Giáo hội cách công khai. Vậy cách công
khai đó phải hiểu thế nào?
Nguyên ngữ bằng Latinh ở:
GL. đ.1086.1 - “Matrimonium
inter duas personas, quarum
alteri sit baptizatain Ecclesia catholica vel in eandem recepta necactu
formali ab
ea defecerit, et altera non baptizata, invalidum est[1].
GL. đ.1117 - “Statuta
superius forma servanda est, si saltem alterutra pars matrimonium
contrahentium in Ecclesia catholica baptizata vel in eandem recepta sit
neque actu
formali ab ea defecerit,
salvis praescriptis can.1127.2[2].
GL.đ.1124 - “Matrimonium inter duas
personas baptizatas, quarum altera sit in Ecclesia catholica baptizata
vel in eandem post baptismum recepta, quaeque nec ab ea actu
formali defecerit, altera
vero Ecclesiae vel communitati ecclesiali plenam communionem cum
Ecclesia catholica non habenti adscripta, sine
expressa auctoritatis competentis licentia prohibitum est”[3]
Cụm từ actu
formali defecerit thường
được dịch ra Việt ngữ là lìa
bỏ Giáo hội cách công khai hoặc bỏ đạo công khai thì
không đầy đủ ý nghĩa lắm, và người ta thường hiểu bỏ
đạo công khai với nội
dung là: không
đi lễ Chúa nhật, không xưng tội rước lễ,không tham gia các sinh họạt
trong giáo xứ. Cách hiểu nầy không đúng với từ actu
formali của Giáo luật.
Bởi vì có những người vì lý do nào đó không thực hành đạo, nhưng vẫn còn
đức tin. Chữ actu
formali phải hiểu là: bằng
một quyết định dứt khoát và rõ ràng trước mặt người có thẩm quyền trong
Giáo Hội, xin xóa bỏ bí tích rửa tội và ra khỏi Giáo Hội Công Giáo[4],nghĩa
là hoàn toàn chối bỏ đức tin.
Về mặt hình thức:
. Hành vi này phải thực hiện bằng văn bản, có chữ ký, nơi và ngày tháng
năm làm văn bản. Trong văn bản trình bày yêu cầu của mình.
. Hành vi này phải được thực hiện cách tự do, có ý thức và biết rõ lý
do.
. Cần có sự gặp gỡ đối thoại với người có thẩm quyền trong Giáo hội.
Quyết định chấp thuận của người có thẩm quyền trong Giáo hội được coi
như một hành vi hành chính có tính cách pháp lý. Quyết định này không
xóa bỏ ấn tích rửa tội (GL đ.849) mà chỉ là công khai hóa hành vi chối
bỏ đức tin và không muốn thuộc về Giáo hội công giáo của đương sự.
Về mặt thực tế, đó là hành vi:
. Công khai tôn thờ ngẫu tượng, thần linh ngoại giáo.
. Lãnh nhận nghi thức gia nhập vào một tôn giáo khác hoặc nhận một hình
thức rửa tội khác sau khi đã rửa tội theo nghi thức công giáo.
. Ký văn bản chối bỏ đức tin công giáo như điều kiện gia nhập một giáo
phái hoặc để hưởng một quyền lợi hay đặc ân.
Như thế, theo giáo luật, người này bị xếp vào trường hợp của đ.751[5] và
có thể bị hình phạt theo quy định của GL. đ.1364[6]với
những hệ quả kèm theo.
Việc kết hôn của người này với người công giáo bị cấm, trừ khi người này
xin gia nhập Giáo Hội Công Giáo cũng bằng một quyết định dứt khoát và rõ
ràng trước mặt người có thẩm quyền trong Giáo Hội, hoặc đã được giải vạ
hoặc đã được phép chuẩn của Bản quyền giống như trường hợp của hôn nhân
hỗn hợp nơi GL đ.1124[7].
Xem GL. đ.1086; 1117 nêu trên.
Lm.Nguyễn Công Vinh
[1] GL.
đ.1086.1-Hôn phối vô hiệu giữa một người đã rửa tội trong Giáo hội Công
giáo hay đã được nhận vào Giáo hội Công giáo và chưa công khai chính
thức lìa bỏ Giáo hội, với một người không rửa tội.
[2]GL.
đ.1117 - Phải giữ thể thức quy định ở trên, nếu ít là một trong hai
người kết hôn đã được rửa tội trong Giáo hội Công giáo, hay đã được nhận
vào Giáo hội Công giáo và chưa công khai chính thức lìa bỏ Giáo hội;
đừng kể quy định của điều 1127.2.
[3] GL.
đ.1124 - Nếu không có phép minh thị của thẩm quyền hữu trácg, hôn phối
bị cấm chỉ giữa hai người đã rửa tội, mà một người đã được rửa tội trong
Giáo hội Công giáo, hoặc đã được nhận vào Giáo hội Công giáo sau khi rửa
tội và chưa công khai chính thức lìa bỏ Giáo hội Công giáo, với một
người thuộc về một giáo hội hay giáo đoàn không hiệp thông hoàn toàn với
Giáo hội Công giáo.
[4] PASSICOS
(Jean), L’acte formel, in L’année canonique, 39, 1997, tr. 51-57.
[5] GL.
đ.751 - Gọi là lạc giáo khi cố chấp phủ nhận, sau khi đã chịu phép rửa
tội, hay nghi ngờ một chân lý phải tin nhận theo đức tin thần linh và
công giáo; gọi là bội giáo nếu chối bỏ toàn bộ đức tin Kitô giáo; còn ly
giáo là từ chối sự tùng phục Đức Giáo Hoàng hay từ chối sự hiệp thông
với các phần tử của Giáo hội đang thuộc quyền Ngài.
[6] GL.
đ.1364.1- Người bội giáo, lạc giáo hay ly giáo sẽ bị mắc vạ tuyệt thông
tiền kết, đừng kể quy định ở điều 194 triệt 1 số 2.[…].
[7] Réponse
de la CPIV/67-68, 11.02.1972 (AAS 65 [1972] 397; De 69 [1972] 817).
CPIV= Pontificia Commissio decretis Concilii Vaticani II interpretandis
|